Trong nhân của mỗi tế bào có các chuỗi phân tử được gọi là các nhiễm sắc thể. Tế bào của con người chứa đựng 46 nhiễm sắc thể (trừ tế bào trứng và tinh trùng có 23 nhiễm sắc thể). Mỗi nhiễm sắc thể lại gồm hàng ngàn gen. Mỗi gen lại có chứa 1 bít (một đơn vị) thông tin, mà các thông tin này điều khiển hoạt động sống của tế bào, mỗi tế bào đều có tất cả các gen này. Cuối cùng thì tất cả các tế bào đều phát triển từ một tế bào trứng đã thụ tinh và mỗi lần tế bào phân chia, tất cả các nhiễm sắc thể đều phân chia.

Chắc hẳn giờ đây các bạn đã hiểu rằng tế bào não của bạn cũng mang các gen như các tế bào tay, xương, thận hay tuyến giáp. Trong các tế bào não chỉ hoạt động các gen mà nhờ các gen đó não thực hiện được chức năng của mình. Nếu bạn có thể “tắc” những gen đó và “bật lên” vào đó những gen khác, thay vào thì tế bào não của bạn có thể chuyển thành tế bào, ví dụ, của thận.

Ở những sinh vật sơ đẳng, tất cả các gen trong các tế bào đều hoạt động. Nếu ta tách một cá thể bọt biển đã trưởng thành ra thành một nghìn tế bào, thì mỗi tế bào sẽ phát triển thành một cá thể độc lập. Những động vật cao cấp hơn mất khả năng đó, nhưng nếu bạn cắt đi một mẩu khá lớn của con giun đất hay con sao biển thì những tế bào liền kề sẽ tái tạo và thay thế phần bị mất. Thậm chí một con ếch trong điều kiện thuận lợi có thể mọc lại một chi đã bị cắt. Con người có khả năng cao nhất là lên da mới trên vết sẹo hay lành lại chỗ xương bị tổn thương. Nếu chúng ta có được khả năng điều khiển hoạt động của các gen, bác sĩ có thể trong trường hợp cần thiết, tạo cho các bạn một cái dạ dày mới hay một bàn tay thay thế, nhưng tôi cho rằng, đó còn là việc của một tương lai rất xa.

Chúng ta quay lại câu chuyện xoay quanh cái bào thai vào kì một tuần tuổi, khi mà búi tế bào bắt đầu thay đổi thì sự chuyển hóa sẽ tương đối cơ bản: các tế bào phân chia thành tế bào ngoài, tế bào giữa và tế bào trong, mà theo từ chuyên môn chúng được gọi là các tế bào ngoại bì, trung bì và nội bì. Tế bào ngoại bì sẽ phát triển thành da, mắt, tai và hệ thống thần kinh. Những hiểu biết về phôi thai học giúp các bác sĩ giải quyết những vấn đề trong y học. Nếu bác sĩ khám cho một đứa trẻ phát hiện ra nốt ruồi hay vết dị thường trên da, thì ngay lập tức bác sĩ sẽ phải tìm hiểu kĩ hơn nguyên nhân gây nên qua các tế bào ngoại bì. Khi đó, bác sĩ, tất nhiên, không phải quá quan tâm đến hệ thông tiêu hóa, do các tế bào nội bì tạo thành.

 

KHỞI NGUỔN CỦA HỆ THỐNG SINH DỤC

 

Các tế bào trung bì phát triển thành cơ quan sinh dục. Sau ba tuần tuổi, trong phôi thai, một nhóm tế bào phát triển thành hệ thống cơ quan niệu quản và sinh dục. Ở các sinh vật bậc thấp không có hai hệ thông cơ quan này, ở những sinh vật bậc cao hơn, hai hệ thống này là một. Thậm chí ở loài chim, sự bài tiết và đẻ trứng qua cùng một lỗ.

Vào khoảng sáu tuần tuổi, một số tế bào tạo thành một cặp tuyến sinh dục mà từ đó sẽ phát triển thành tinh hoàn hay buồng trứng, còn các tế bào khác tạo ra các bộ phận sinh dục sau này sẽ phát triển thành cơ quan sinh dục ngoài. Vào giai đoạn này bào thai của bé trai và bé gái trông giống hệt nhau. Trong hai tuần tiếp theo, tuyến sinh dục sẽ tạo ra buồng trứng hay tinh hoàn, nhưng cơ quan sinh dục ngoài vẫn chưa khác biệt.

 

DẤU HIỆU GIỚI TÍNH NAM

 

Đến tuần thứ tám, tinh hoàn của bào thai sản sinh ra các hoóc môn nam, những dấu hiệu mà theo đó người ta xác định giới cho em bé là trai (dương vật và bìu dái) và cả các cấu tạo trong (tuyến tiền liệt và ông dẫn tinh). Ít lâu sau tinh hoàn tụt xuống ổ bụng, và đến cuối tháng thứ tám tinh hoàn nằm ở trong bìu.

Nếu cho rằng tuyến sinh dục bắt đầu sản xuất ra các hoóc môn nữ thì đứa bé sẽ là một em gái thì không đúng. Trong bào thai vốn có rất nhiều hoóc môn nữ – đó là hoóc môn của người mẹ. Các buồng trứng không cần phải làm gì để thúc đẩy bào thai trở thành một bé gái. Hơn nữa, nếu vì một lí do nào đó tinh hoàn của một bào thai bé trai không sản sinh (hay sản sinh ít) hoóc môn nam, thì đứa trẻ sinh ra giống một bé gái bình thường (tinh hoàn không tụt xuống bìu, vì vậy biểu hiện ngoài không rõ). Các bậc cha mẹ sẽ nuôi một cô con gái và không ai thấy có gì đặc biệt cho tới khi họ phát hiện đứa trẻ không có sự phát triển về giới ở tuổi dậy thì. Điều đó có nghĩa là chủ yếu cơ thể con người có cấu tạo giống phụ nữ. Vì lẽ đó nên quá trình hình thành giới tính nam cần phải có những sự thay đổi lớn. Bản thân thiên nhiên không hoàn hảo, nên có những sự sai lầm lẫn lộn và sự phát triển chệch hướng. Hiểu điều này giúp người ta giải thích tại sao đàn ông dễ tổn thương và bị bệnh hơn phụ nữ.